Egypt Israel Oct 2007




Bấm nút "Download Now"
để cài Windows Media Player. 
Windows Media Player 11
Download Now

Windows Media Download Center
 

Sunday, August 21, 2005

 

Công giáo cơ chế (institutional Catholicism)

Hoàng Quý viết theo Lm. Richard Rohr

Bóng tối thứ ba của Công giáo được linh mục Rohr đề cập tới chính là đặc tính cơ chế trong Giáo hội. Mỗi một giáo xứ của chúng ta đã là một cơ cấu rồi, với ban quản trị và điều hành, với các chương trình và ngân sách, với các tòa nhà và đất đai. Các cơ cấu Công giáo được mở ra khá nhiều như các trường học, các chủng viện, các bệnh viện, các cơ quan xã hội, các tu viện và các nhà tĩnh tâm. Đường lối tổ chức Giáo hội khá chặt chẽ, từ Vatican cho tới các giáo phận, các dòng tu.

Kitô giáo đã phát triển các cơ cấu rất sớm trong lịch sử. Ngay từ thuở ban đầu, các tông đồ đã không thiết lập các chương trình hành động. Các ngài túa đi vội vã khỏi căn phòng trên lầu trong ngày Lễ Hiện Xuống và bắt đầu xuống đường đi rao giảng, công bố Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế và mời gọi con người biến đổi. Quý ngài rửa tội cho các tín hữu tân tòng và thiết lập các cộng đoàn, hội họp nhau trong các gia đình và chia sẻ Bữa Ăn Tối của Chúa Giêsu, cầu nguyện trong các hội đường hoặc bất cứ nơi nào các tín hữu họp mặt nhau được. Những nhà thừa sai như Thánh Phaolô ra đi bốn phương loan báo Tin Mừng về Chúa Giêsu và Vương quốc của Ngài đang đến.

Các cộng đoàn phát triển thật nhịp nhàng và theo nhiều cấu trúc. Các Kitô hữu gặp nhau điều hòa vào mỗi Chúa Nhật để cử hành việc Chúa Sống Lại và cảm tạ Thiên Chúa vì đã gửi Chúa Giêsu đến với trần gian. Các tín hữu nam nữ được chỉ định lo cho người nghèo khổ, những ai góa bụa và những kẻ mồ côi. Các vị cao niên được lựa chọn để coi sóc các cộng đoàn địa phương, xướng xuất các buổi thờ phượng và duy trì những lời giảng dậy của các tông đồ. Chúng ta có thể đọc được các công việc phát triển này trong Tân Ước, trong Công Vụ các Tông Đồ, và trong nhiều Thư Tông đồ. Giáo hội cơ chế hóa những gì cần thiết phải làm để phục vụ nhu cầu của các cộng đoàn và đem Tin Mừng đến với thế giới.

Công việc thiết lập đời sống cộng đoàn và các hoạt động truyền giáo đã thành công trong việc hoán đổi toàn Đế Quốc Roma theo Kitô giáo. Khi Đế Quốc Roma rơi vào tay các cuộc xâm chiếm của các dân man rợ, lúc đó các cơ chế chính quyền tiêu tan. Chỉ còn lại các cơ chế của Giáo hội tồn tại như các giáo xứ, các giáo phận và các tu viện. Các cơ cấu này, ngoài việc duy trì được các sứ điệp Tin Mừng và truyền thống Do Thái-Kitô giáo, còn duy trì được cả những văn minh Roma và văn hóa Tây phương. Giáo hội đã văn minh hoá và Kitô hoá các bộ lạc man rợ của Âu châu qua các cơ chế và dần dần một nền văn hóa mới khai sinh vào thời Trung Cổ của Kitô giáo.

Tuy nhiên công việc cơ cấu hóa cũng có những mặt tiêu cực. Các cơ cấu có đời sống cho riêng mình. Các cơ cấu tự vĩnh viễn hóa chính mình và rất khó thay đổi. Người ta đã thiết lập các cấu trúc vững mạnh hơn là các cá nhân trong đó. Đây là điểm mạnh và đồng thời cũng là điểm yếu. Một mặt sáng vẫn có luôn mặt tối phía sau.

Chúng ta đã biết các cơ cấu của Công Giáo Roma là cơ cấu của Tây phương. Cơ chế đó thật phẩm trật và thống trị. Các cơ chế đó được tổ chức theo kim tự tháp. Các lệnh ban xuống từ chóp đỉnh, rồi đi qua các tầng lớp cho tới khi đụng tới đáy. Xã hội được phân chia thành các tầng lớp lãnh đạo và các tầng lớp thứ dân, các giáo chức và các học sinh. Xã hội của Giáo hội cũng được phân bố thành các chủ chiên và các con chiên, hàng giáo sĩ và giáo dân.

Sức mạnh của cơ cấu kiến trúc này là khả năng thiết lập và duy trì được các cộng đoàn và các tổ chức. Khi dân chúng kính trọng uy quyền, họ muốn quy phục những nguyện vọng cá nhân của họ cho lợi ích của toàn thể. Và còn hơn thế, các tín hữu trong các cơ chế tôn giáo còn quy phục trí óc và sáng kiến của họ theo ý muốn của những ai đứng đầu bậc thang hàng giáo phẩm và họ trở thành những người thụ động và không quyền lực. Họ không làm gì nữa ngoại trừ những việc bảo phải làm. Họ nhường cho người khác suy nghĩ thay họ. Họ hài lòng với lối sống bình thường thay vì phải cố gắng đạt được những gì thiện hảo hơn.

Có chỗ đứng cho việc lãnh đạo trong Giáo hội. Chúng ta nhớ lại đoạn Tin Mừng Chúa Giêsu tiên báo cho Phêrô rằng ông sẽ chối Ngài, và Ngài nhắn nhủ ông sau đó: "Si-môn, Si-môn ơi, kìa Xa-tan đã xin được sàng anh em như người ta sàng gạo. Nhưng Thầy đã cầu nguyện cho anh để anh khỏi mất lòng tin. Phần anh, một khi đã trở lại, hãy làm cho anh em của anh nên vững mạnh" (Lc 22:31-32).

Vai trò lãnh đạo trong Giáo hội chính là làm vững mạnh các phần tử trong Giáo hội. Tuy nhiên trong quá khứ, các nhà lãnh đạo trong Giáo hội đã làm suy yếu các tín hữu. Các ngài đã đồng hóa niềm tin của mình vào niềm tin của cơ chế và bảo các tín hữu chỉ việc thi hành những gì cơ chế bảo phải làm, đó là cầu nguyện, góp tiền và vâng phục. Các tín hữu vâng phục nhưng họ chẳng phát triển gì cho niềm tin của mình trưởng thành thêm.

Đó là nhược điểm của một cơ chế hùng mạnh. Giáo hội đã duy trì và vĩnh viễn hóa chính mình theo cách thức toàn trị vững mạnh như thế, trong lúc gây cho các tín hữu một cảm nhận về sức hùng mạnh nơi kích thước, nơi con số to lớn và thể chế vững vàng của Giáo hội. Và như vậy Giáo hội đã không cống hiến cho các tín hữu sức mạnh tâm linh. Giáo hội không mời các tín hữu đi vào cảm nghiệm sống với Thiên Chúa, cũng chẳng giúp họ đi vào cuộc sống thân tình với Chúa Giêsu. Giáo hội cũng chẳng đòi hỏi các tín hữu trở thành các môn đệ của Chúa Giêsu, thành những người đi theo Tin Mừng, nhưng chỉ là những người đi theo các giáo sĩ. Giáo hội cũng chẳng đem đến cho họ một nền đạo đức đi xa hơn việc chỉ giữ các Giới Răn và xa tránh những chuyện tình dục tội lỗi. Giáo hội cũng chẳng nhắc nhở các tín hữu phải nhận lấy trách nhiệm trước những quyết định luân lý của chính mình và trách nhiệm phải uốn nắn xã hội đi vào Vương quốc Nước Trời. Dưới quyền thống lãnh cha chú này, phần đông niềm tin tôn giáo của người Công giáo và lương tâm luân lý của họ ở trong trạng thái ấu trĩ, thụ động.

Kết quả như ngày nay chúng ta đang nhìn thấy cơn khủng hoảng đức tin và luân lý trong Giáo hội. Hàng giáo sĩ vẫn theo lối độc tài bảo các tín hữu điều gì phải tin và phải cư xử thế nào, nhưng nhiều người Công giáo chống cự lại. Có khi vì các tín hữu học thức hơn và tin rằng họ phải có đóng góp phần nào trong các quyết định trong Giáo hội, nhưng các quyết định này lại đến từ linh mục quản nhiệm, từ vị chưởng ấn hay từ Vatican. Có khi, dù cho họ muốn hàng giáo sĩ bảo họ phải làm gì, nhưng hàng giáo sĩ lại không nói những gì họ muốn nghe. Trong cả hai trường hợp, họ cảm thấy mình bị xa tránh, bị bỏ rơi, bị chọc giận. Cơn khủng hoảng này cũng là cơn khủng hoảng uy quyền.

Có vị trí cho uy quyền trong Giáo hội. Một đoạn Tin Mừng của Thánh Matthêu vẫn được coi là thân thương với các tín hữu Công giáo vì xác quyết niềm tin vào uy quyền của Phêrô. Sau khi Phêrô tuyên xưng Chúa Giêsu là Đấng Kitô, Ngài quay lại phía Phêrô và công bố: "Này anh Si-môn con ông Giô-na, anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh biết: anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi" (Mt 16:17-18).

Vai trò của uy quyền trong Giáo hội trở thành nền móng cho việc thiết lập một cộng đoàn. Giáo hội trở thành nền tảng nối kết giữa việc các tín hữu di động vào trần giới với lời bảo đảm của Chúa Giêsu rằng không gì có thể chống lại việc loan báo Tin Mừng. Chúa Giêsu không nói rằng Phêrô là Giáo hội, nhưng ông chỉ là người đem đến hiệp nhất và vững chắc cho Giáo hội. Tuy nhiên, trong quá khứ Giáo hội đã đồng hóa với giáo hoàng và hàng giáo phẩm. Hàng giáo phẩm đã làm mọi chuyện trong Giáo hội và các tín hữu chẳng làm gì hết. Họ thụ động và suy yếu. Hàng giáo sĩ đảm trách uy quyền trong Giáo hội và để các tín hữu trở thành vô lực.

Một lần nữa chúng ta nhìn thấy hậu quả là cơn khủng hoảng uy quyền trong Giáo hội. Trước đây hàng giáo sĩ làm hết mọi chuyện, nhưng ngày nay khi thiếu các linh mục coi sóc các xứ đạo và các bệnh viện, nhiều tín hữu cảm thấy mình bị bỏ rơi và lạc lõng. Trước đây hàng giáo sĩ xem ra hoàn hảo, nhưng ngày nay dân chúng biết được rằng có một số linh mục uống rượu say sưa, lạm dụng tình dục và ham mê tiền của, nhiều tín hữu cảm thấy mình như bị lừa đảo và tức giận. Họ đã đặt hàng giáo sĩ lên bệ thờ quá lâu rồi đến nỗi họ không còn biết phải làm gì khi họ phát giác ra các linh mục cũng chỉ là những con người phàm tục như họ. Họ đã được quản trị mục vụ quá lâu rồi đến nỗi họ không còn biết phải thi hành mục vụ với nhau thế nào. Cơn khủng hoảng này là cơn khủng hoảng mục vụ.

Sau cùng, cơn khủng hoảng uy quyền trong Giáo hội đang trở thành cơn khủng hoảng uy quyền của Giáo hội. Giáo hội như một cộng đoàn các môn đệ được mời gọi trở thành sự hiện diện của Chúa Giêsu trong thế giới, ánh sáng chiếu trên đồi, ngọn đèn thắp sáng giữa màn đêm. Tuy nhiên, khi uy quyền trong Giáo hội bị giới hạn chỉ dành cho hàng giáo sĩ, uy quyền của toàn thể các tín hữu trong thế giới trở thành giảm thiểu. Giáo hoàng và các giám mục nói, thế giới ngoài Công giáo không cần lắng nghe, vì hàng giáo phẩm chỉ là thiểu số ít ỏi. Ngay cả đến người Công giáo cũng thường không lắng nghe, hoặc vì họ đồng ý và nghĩ rằng khi hàng giáo phẩm nói, họ có thể thụ động chẳng phải làm gì, hoặc họ bất đồng và nhận ra rằng hàng giáo phẩm cũng chẳng thể ép buộc họ.

Khi uy quyền trong Giáo hội được cơ chế hóa theo cách thức thời Đế quốc Roma, Giáo hội tạo được lợi điểm là vững bền và lâu dài, nhưng đồng thời phạm phải một yếu điểm là tập trung vào một số người ưu tú điều khiển. Bao lâu quần chúng không có quyền hành gì, lúc đó sức mạnh nằm trong tay hàng Giáo sĩ hành động nhân danh họ. Các cơ chế Giáo hội được điều động do các linh mục hoặc các tu sĩ, thường phục vụ các nhu cầu của những người nghèo khổ và tật bệnh, những ngưởi vô gia cư và thất học. Nhưng quyền lực theo hình kim tự tháp từ trên xuống dưới cũng đã cơ chế hóa tính thụ động nơi các tín hữu trong mục vụ của hàng giáo sĩ. Như vậy mặt sáng của Giáo hội đã chứa chấp mặt tối ngay phía sau rồi.

Ngày nay chúng ta thấy mặt tối trong khuynh hướng Công giáo muốn đồng hóa Giáo hội với các cơ chế, hoặc ngay với hàng giáo sĩ. Người Công giáo không nghĩ mình như một Giáo hội. Họ không nghe những lời Chúa như đang nói với họ, nhưng nói với các linh mục và các tu sĩ. Họ không đảm trách nhiệm vụ nào trong sứ mệnh của Giáo hội trong thế giới, nhưng thay vào đó, họ phó mặc cho các cơ chế Giáo hội mỗi ngày mỗi trở thành vô lực. Phải chăng đây không là nguyên nhân gây ra những suy yếu trầm trọng trong Giáo hội hiện nay?

Kỳ tới: Công giáo phi Kinh Thánh (Unscriptural Catholicism).

Comments:
cong giao co che
 
Post a Comment

<< Trở về trang Mục Lục
C�m ơn qu� vị, xin mời v�o trang sau đ�y:
  • NGỌN NẾN NHỎ
  • This page is powered by Blogger. Isn't yours?