Egypt Israel Oct 2007




Bấm nút "Download Now"
để cài Windows Media Player. 
Windows Media Player 11
Download Now

Windows Media Download Center
 

Thursday, June 23, 2005

 

Tại sao là Công Giáo? (Bài 5)

LÀ CÔNG GIÁO CAO CẢ LẮM SAO?
Mời gọi biến đổi xã hội
Hoàng Quý viết theo Lm Richard Rohr

Một ưu điểm khác của Công giáo được Linh mục Rohr trình bầy thật tinh tế và thâm thuý đó là Công giáo, một Giáo hội đem đến biến chuyển xã hội nơi trần thế. Giáo hội cảm nhận được sứ mệnh của mình là phải biến đổi chính mình để biến đổi thế giới theo đường lối của Tin Mừng. Đề tài này thật trùng hợp với chủ trương của 4 cơ sở truyền thông giáo dân vừa phát hành Tuyển Tập Giáo Dân số Ra Mắt mang chủ đề: "Giáo hội Công Giáo: sứ mệnh đổi mới."

Như đã trình bầy về các ưu điểm của Giáo hội Công giáo trong chương thứ nhất của cuốn sách "Why to be Catholic?" của Lm Richard Rohr, đi từ ưu điểm từng cá nhân mỗi tín hữu phải biến đổi thành thánh thiện, rồi từ đời sống cá nhân, người tín hữu được mời gọi hướng đến đời sống tập thể để biến đổi xã hội. Như vậy sứ mệnh của Giáo hội không phải chỉ quy hướng, tập trung vào mình thành những cộng đoàn đóng kín. Nhưng hơn thế, Giáo hội phải vươn mình ra xa hơn cộng đoàn, tập thể, và ngay cả Giáo hội rộng lớn của mình để hướng về thế giới bên ngoài.

Các tông đồ nhận ra Tin Mừng Chúa Giêsu đã rao truyền không phải chỉ dành cho một số người quy tụ chung quanh quý ngài, nhưng hơn thế, phải cho toàn thế giới. Quý ngài hiểu lời rao giảng và sứ mệnh của Chúa Giêsu chính là công bố tình yêu thương vô bờ bến của Chúa Cha trải rộng đến mọi người qua cái chết và sống lại của Chúa Giêsu để đem đến cho mọi người ơn cứu độ là họ cũng phải chết và sống lại để hướng tới một đời sống mới. Ngay từ đầu, các tông đồ đã nhìn ra mục đích của đời sống quý ngài là phải đem Tin Mừng loan truyền cho tới tận chân trời góc biển và đem toàn thế giới đến với Chúa Giêsu.

Sứ mệnh của Giáo hội chính là hoàn thành những gì các tông đồ đã khởi đầu. Giáo hội là dấu hiệu, còn được gọi là bí tích, biểu hiện sự hiện diện nối dài của Chúa Giêsu trong thế giới. Bí tích không chỉ được hiểu hạn hẹp trong các nghi lễ phụng vụ, nhưng Bí tích phải trở thành những dấu hiệu làm chứng tá cho sự hiện diện đích thực của Chúa Giêsu giữa thế giới. Như các tông đồ đã công bố Chúa Giêsu không còn chết nữa, nhưng Ngài đang sống, đang phục sinh giữa con gười, thế thì Giáo hội cũng phải tiếp tục công bố Chúa Giêsu vẫn đang sống và đang tác động trong thế giới và cử hành thực tại sống động này trong Thánh Thể. Tràn đầy với Thần Khí Chúa, Giáo hội tiếp tục sứ mệnh của Chúa Giêsu khi loan báo tình yêu vô bờ bến của Thiên Chúa và săn sóc những ai chưa tin rằng có một ai đó có thể lo toan cho họ. Đó là bí tích Chúa Giêsu trong thế giới. Bí tích Thánh Thể mang ý nghĩa một sự thông hiệp Chúa Giêsu muốn đến với hết mọi người.

Bí tích Thánh Thể không chỉ mang ý nghĩa là một sự thông hiệp với Chúa Giêsu, vì trong phần đầu của Thánh lễ chỉ là việc công bố Lời của Thiên Chúa trong Kinh Thánh. Giáo hội chính là nơi Lời Thiên Chúa được bảo tồn và rao truyền, để từ đó đi tới việc phải sống đích thực Lời của Ngài. Chúng ta cũng nên nhớ rằng trước khi sách Tin Mừng được viết ra và phổ biến, thì các cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi đã chuyền miệng nhau những câu chuyện về Chúa Giêsu và hướng dẫn nhau sống theo lối sống của Chúa Giêsu. Nói cách khác, Giáo hội đã có trước sách Tin Mừng. Sứ mệnh cộng đoàn đã gầy dựng nên cộng đoàn truyền khẩu.

Thánh Thể không kết thúc với việc hiệp thông, nhưng chúng ta được lệnh hãy lên đường rao giảng Tin Mừng đến tận cùng thế giới. Việc rao giảng này không chỉ bằng lời nói, nhưng phải thể hiện bằng việc làm, bằng chứng từ tức là bằng yêu thương, bác ái, bằng sống công chính, đức độ, bằng phục vụ. Chúng ta thể hiện những việc vừa rồi với tính cách cá nhân trong cộng đoàn vì cộng đoàn là Thân Thể của Chúa Giêsu. Chúng ta thể hiện những việc vừa rồi chung với nhau như một thân thể đã được sát nhập vào nhau ở bất cứ nơi đâu chúng ta có Chúa Giêsu hiện diện, kể cả nơi "những người rốt bét trong anh em chúng ta" (Mt 25:40). Sứ mệnh của Giáo hội là đem tình yêu thương và phục vụ của Chúa Giêsu đến cho tất cả mọi người, cho đến tận cùng trái đất và tới ngày tận cùng thế giới.

Thế thì, Giáo hội của Chúa Giêsu với tính cách là Giáo hội có sứ mệnh phải vượt ra khỏi chính mình để vươn mình ra thế giới. Sứ mệnh của Giáo hội chính là bành trướng Vương quốc Thiên Chúa đến mọi dân tộc và biến đổi thế giới để gia nhập vào Vương quốc của Ngài. Chính vì lý do đó, truyền thống Công giáo đã luôn luôn là một biến đổi xã hội theo hai chiều hướng: biến đổi xã hội trong chính Giáo hội và biến đổi xã hội bên ngoài Giáo hội.

Giáo hội chính danh mang ý nghĩa là một xã hội đã được biến đổi, một nơi tình yêu Chúa được cảm nghiệm thấy, được thử nghiệm thấy và được cử hành trong nghi thức phụng vụ. Giáo hội là nơi sự tha thứ của Chúa được ban phát cho mọi người và được diễn tả thành những dấu chứng trong bí tích. Giáo hội là nơi việc phục vụ của Chúa được trải rộng đến mọi người và được thể hiện trong mục vụ. Giáo hội là nơi mọi người nhận được thần lực của Thánh Thần và người khác cảm nghiệm thấy qua những cuộc sống đã canh tân và những mối giây liên hệ đã biến đổi. Phần ưu tiên của sứ mệnh Giáo hội đặt nơi chính mình, có nghĩa là phải sống đúng thiên chức của mình là Thân Thể thánh thiện của Chúa Giêsu và sau đó bao gồm luôn việc phải yêu thương và phục vụ những ai bên ngoài Giáo hội.

Giáo hội Công giáo đã lưu truyền thể hiện sứ mệnh của mình qua việc luôn luôn canh tân chính mình, cải tổ chính mình. Nhiều người Công giáo tin rằng việc canh tân bắt đầu từ năm 1960 với Công đồng Vaticanô, nhưng đây là Công đồng thứ hai mươi mốt trong lịch sừ Giáo hội. Thực tế, đa số các công đồng đều nhắm đến công việc canh tân và cải tổ.

Canh tân trong Giáo hội bắt đầu thật sớm ngay từ thời Tân Ước. Ngay trong chương thứ mười lăm của cách Công Vụ vào khoảng năm thứ 50, các tông đồ đã gặp nhau tại Giêrusalem bàn luận về việc có cho phép những tín hữu không phải người Do Thái đã trở lại phải tuân thủ các luật lệ về kiêm khem và những phong tục khác của người Do Thái không? Các nhà lãnh đạo trong hội nghị đi đến quyết định, vì lợi ích của toàn thể Giáo hội, các luật lệ của truyền thống Do Thái không bắt buộc nơi những tín hữu mới trở lại. Chúng ta cũng còn nhìn thấy trong các thư của Thánh Phaolô, Ngài luôn luôn cải tổ các cộng đoàn do Ngài thiết lập khi kêu gọi mọi người sống trung thực và trọn vẹn Tin Mừng Ngài đang rao giảng cho họ.

Giáo hội được canh tân từ những phong trào rủ nhau đi sống ẩn tu theo tinh Thần Tin Mừng ngay khởi đầu từ thế kỷ IV và còn nhiều canh tân ẩn tu khác kéo dài nhiều thế kỷ sau đó. Thế kỷ IX hối thúc một cuộc canh tân thời trung cổ kéo dài trong một thời gian bắt đầu bằng việc thay đổi phụng vụ, rồi tiếp tục qua việc duyệt xét lại giáo luật và đạt tới cao điểm trong việc phát triển nền thần học kinh viện vào thế kỷ XIII. Công đồng Triđentinô vào thế kỷ XVI chính yếu là Công đồng canh tân được triệu tập để đáp ứng những thách thức của giáo phái Tin Lành. Những thế kỷ sau đó nhiều dòng tu được thiết lập còn kéo dài tới ngày nay. Mỗi dòng tu cố công canh tân từ bên trong một số khía cạnh của Giáo hội.

Như vậy thật rõ ràng thái độ khôn ngoan của Công giáo nhận ra nhu cầu phải tự bình phẩm mình và canh tân chính mình. Truyền thống Công giáo về tăng trưởng lối sống thánh thiện không những kêu gọi từng cá nhân tín hữu nhưng toàn thể Giáo hội phải hoán cải và biến đổi. Những người chống đối những thay đổi của Công đồng Vaticanô viện cớ rằng Giáo hội đã bỏ rơi truyền thống của Giáo hội, thật rõ ràng họ đã có những cái nhìn ngắn hạn, hẹp hòi, thiện cận về truyền thống. Tầm nhìn của họ chỉ còn là truyền thống của Công đồng Triđentinô cách nay đã hơn 400 năm, do đó họ không đánh giá được những thay đổi đang đặt ra cho Giáo hội vào thời đại hôm nay. Họ đúng là những người hoài cổ mơ mộng hơn là sống trong thực tế của thời thế. Giáo hội của Chúa sống trong dòng lịch sử chảy xiết chứ không phải trong một biển hồ chết. Quan trọng hơn, họ đã đánh mất tầm nhìn của 2000 năm lịch sử tăng trưởng và canh tân của Giáo hội, đó là truyền thống vĩ đại của chủ trương Công giáo.

Như vậy những người theo "chủ nghĩa duy truyền thống" thực sự họ là những người chống lại chủ trương truyền thống hoặc chả hiểu thế nào là truyền thống đích thực cả, hoặc không muốn thay đổi để duy trì địa vị hiện có. Hồng y John Henry Newman, nhà thần học danh tiếng người Anh, cách đây hơn 100 năm đã sâu sắc nhận định: "Để lớn lên phải thay đổi và để hoàn thiện phải thường xuyên biến đổi." Theo Ngài, phần đông người ta có thói quen nhìn Giáo hội như một "xã hội hoàn hảo" rồi. Ít có ai sống trong thời đại của Ngài đề cập về Giáo hội giống như Ngài cả và Ngài nhìn ra khả năng tài khéo của Giáo hội khi biết thích nghi và tăng trưởng, chính đó là yếu tố quan trọng đem đến mức hoàn hảo của Giáo hội.

Lời mời gọi của Công giáo hướng đến việc biến đổi xã hội đã vươn rộng ra ngoài biên cương của chính Giáo hội. Xã hội Tây phương đã được biến chuyển dần dần nhờ Công giáo, và Giáo hội đã thường tích cực trong việc biến đổi xã hội này. Người Công giáo vẫn quan tâm đến những những phúc lợi của dân chúng. Chúng ta hãy nhìn vào lịch sử để thẩm định được nhận định vừa rồi.

Trong đế quốc Roma hồi xưa, các nhà lãnh đạo Công giáo phản đối những tệ trạng đấu gươm chém giết nhau hoặc những hình thức thể thao giết người. Người Công giáo bị cấm chỉ không được tham dự các cuộc chơi chém giết nhau như thế và thúc bách các chính quyền đặt những tay thi đấu này ra ngoài vòng pháp luật. Giáo hội cũng là khí cụ thúc đẩy thông qua các dự luật bảo vệ quyền lợi của các cô nhi quả phụ, huỷ bỏ chế độ nô lệ, giảm bớt phá thai và đối xử nhân đạo với tù nhân.

Trong thời Trung Cổ, Giáo hội bảo vệ các nông dân chống lại các nhà độc tài và quý tộc. Giáo hội cho trú ngụ những ai phá bỏ những luật lệ bất công, những ai muốn phản kháng chống lại cách đối xử thô bạo và đánh thuế quá mức. Giáo hội tuyên bố cái gọi là thiên quyền của các vua chúa đã bị giới hạn bởi luật lệ công chính của Thiên Chúa, và Giáo hội hành xử như một tòa chống án cho nhưng ai cảm thấy mình bị xử oan nơi toà án dân sự.

Các tu viện đã là những bệnh viện đầu tiên cho các bệnh nhân và cũng là những nhà trọ đầu tiên cho các khách hành hương mệt mỏi. Các tu viện còn là những trường học đầu tiên. Và các thầy dòng không những dậy về tôn giáo nhưng còn dậy cả những cách thức chế tạo hoặc sửa chữa máy móc và phương cách làm nghề nông. Các tu sĩ nam nữ còn dấn thân vào thế giới săn sóc phúc lợi cho người dân nữa.

Vào thời đại tân tiến, các nhà truyền giáo, các vị thừa sai đã phải chiến đấu với chế độ nô lệ tại Phi châu và dân Da Đỏ trong những xã hội nông nghiệp. Các vị Giáo hoàng như Lêô XIII và Piô IX đã viết các thông điệp lên án việc hạ giá nhân phẩm của các công nhân trong các xã hội kỹ nghệ. Các vị Giáo hoàng Gioan XXIII và Phaolô VI kêu gọi việc phân chia công bằng hơn các tài nguyên giữa các quốc gia giầu nghèo trên thế giới. Tương tự thế, Giáo hoàng Gioan Phaolô II cũng kêu gọi việc nhân phẩm hóa các nơi làm việc và Kitô hoá các thị trường. Các Giám mục Hoa Kỳ tiếp tục chống lại việc khai thác các người lao động di dân, kêu gọi công luận chú ý tới hoàn cảnh của các gia đình nông dân, nâng đỡ những người vô gia cư và mắc bệnh AIDS, và lên án những kỳ thị sắc tộc và sử dụng vũ khí nguyên tử.

, có những Kitô hữu lại tin rằng Giáo hội phải đứng bên ngoài những công chuyện thế tục. Họ muốn các nhà lãnh đạo Giáo hội phải dính với "tôn giáo" và không nói đến những chuyện kinh tế và chính trị. Họ đòi hỏi Kitô giáo chỉ quan tâm đến những phúc lợi tâm hồn chứ không liên quan gì tới phúc lợi của người dân trong xã hội.

Tuy nhiên, những người Công giáo như thế chống lại những thay đổi trong Giáo hội, họ đã đánh mất mối giây thông hiệp với truyền thống Công giáo là phải biến đổi xã hội. Họ không còn cái nhìn linh thánh của Công giáo. Họ nhìn các lãnh vực linh thánh và trần tục là những thực tại tách biệt nhau. Họ không nhớ rằng Giáo hội luôn luôn đã quan tâm tới người dân phải được xử đối thế nào và họ phải đối xử với nhau thế nào. Họ quên rằng phần toàn vẹn trong sứ mệnh của Giáo hội là phải thể hiện Vương quốc Thiên Chúa trên trái đất.

Giáo hội quan tâm tới phúc lợi của con người và đặc biệt là phúc lợi của những người nghèo khổ và kém may mắn, phát sinh trực tiếp từ sự hiểu biết về việc tăng trưởng linh thánh và ơn cứu độ phổ quát cho mọi người. Thiên Chúa mong muốn mọi người phải đạt tới mức hoàn hảo, toàn vẹn và thánh thiện bao nhiêu có thể. Trước tiên điều này có ý nghĩa là con người phải đạt được những nhu cầu căn bản nhân linh để con người vươn lên trên những ham muốn thể lý và những lo buồn cảm xúc. Tiếp tới mang ý nghĩa con người phải hoàn thành được những chiều kích tâm linh của nhân cách, lớn lên tràn đầy trưởng thành trong Chúa Giêsu nhờ thông hiệp với Thiên Chúa và nhờ đáp ứng được những nhu cầu của người khác. Kinh Thánh là sứ điệp phải được chia sẻ ở mọi tầng lớp đời sống con người, cả về thể lý, tình cảm cũng như tâm linh. Kitô giáo là lối sống phải được các cá nhân, các cộng đoàn và xã hội ôm ấp. Tin Mừng là thần lực của Thiên Chúa, thần lực của Thánh Thần được sắp sẵn cho cả công việc cứu độ các linh hồn cũng như cứu vãn thế giới.

Chấp nhận tầm nhìn Kitô giáo có nghĩa là không bao giờ chấp nhận sự vật như nguyên trạng. Con người luôn luôn đau khổ và gặp những dồn nén. Con người luôn luôn cần được chữa lành và tự do. Nhưng để ngưng lại nhiều đau khổ và đớn đau, chính xã hội phải biến đổi. Là Công giáo có nghĩa là chúng ta phải góp phần vào truyền thống lâu dài của các nhà canh tân xã hội Kitô giáo là những người luôn luôn muốn thay đổi thế giới, biến thế giới giống như Vương quốc của Thiên Chúa.

Kỳ tới: Ý thức thâm sâu về lịch sử

Comments: Post a Comment

<< Trở về trang Mục Lục
C�m ơn qu� vị, xin mời v�o trang sau đ�y:
  • NGỌN NẾN NHỎ
  • This page is powered by Blogger. Isn't yours?